Owlfly – Loài côn trùng độc đáo

Bộ: Neuroptera (Cánh Gân)
Phân bộ: Myrmeleontiformia
Siêu Họ: Myrmeleontoidea
Họ: Ascalaphidae
Tên tiếng Anh: Owlfly
Tên tiếng Việt: Chuồn chuồn mèo, chuồn chuồn cú, chuồn chuồn râu, ruồi cú…

Thoạt nhìn qua loài côn trùng bên dưới thì hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng đó là một con chuồn chuồn. Tuy nhiên thực tế không phải vậy. Đây là một loài côn trùng có tên gọi là Owlfly và dĩ nhiên không có bất kỳ liên hệ nào với chuồn chuồn.

owlfly1

Owlfly. Ảnh: Lý Phú Tại

Chuồn chuồn thuộc Họ Odonata, còn Owlfly có tên khoa học là Ascalaphidae, thuộc Bộ Cánh Gân Neuroptera. Hiện tại có khoảng 430 loài thuộc 65 Giống được phát hiện trên toàn thế giới.

Cái tên Owlfly cũng có nhiều sự thú vị, được ghép từ 2 từ “Owl” (con Cú) và Fly (bay).

Trong ngành sinh học, các loài côn trùng biết bay thường được thêm từ “Fly” trong phần đặt tên, ví dụ Dragonfly (chuồn chuồn), Damselfly (chuồn chuồn kim), Butterfly (bướm), Mayfly (phù du), Robberfly (ruồi sát thủ)…

Còn “Owl” được dịch từ “Ascalaphus” trong tiếng Hy Lạp. Trong thần thoại Hy Lạp, Ascalaphus là một người trồng cây ăn quả ở địa ngục. Ascalaphus tham gia vào việc lừa Pershephone nên bị Nữ thần mùa màng Demeter biến thành một con cú xấu xí. Từ đó trở đi, người Hy Lạp gọi con Cú là Ascalaphus.

Mắt của phân loài Ascalaphinae được chia rãnh. Ảnh: Nguyễn Ngọc Lâm

Điểm đặc trưng của các loài thuộc Ascalaphidae là có đôi mắt rất to, hệt như những con Cú. Bên cạnh đó, chúng thường có thói quen săn mồi lúc chạng vạng tối, rất giống với các loài Cú. Do vậy khi mô tả các loài này, tác giả đã liên tưởng đến con Cú và đặt tên là Ascalaphidae, dịch ra tiếng Anh là Owlfly theo những gì đã phân tích ở trên.

Ở Việt Nam, Owlfly chưa có một cái tên chính thức nào, nhiều địa phương gọi là chuồn chuồn mèo, có người lại gọi là chuồn chuồn râu (vì có cặp râu rất dài), hoặc ruồi cú (dịch từ tên tiếng Anh owl-con cú, fly-ruồi)… Tuy nhiên cách gọi chuồn chuồn rất dễ gây nhầm lẫn, cũng giống như chúng ta từng gọi con Kiến ba khoang, mặc dù nó không phải là kiến.

Ascalaphidae – Owlfly với cặp râu rất dài và dạng chùy. Ảnh: Nguyễn Ngọc Lâm

Ban ngày Ascalaphidae – Owlfy thường đậu dưới tán lá để lẩn trốn kẻ thù. Ảnh: Nguyễn Ngọc Lâm

Một số Owlfly hoạt động ban ngày, còn hầu hết sống về đêm. Với các loài sống về đêm, khi trời còn sáng chúng ẩn mình dưới tán lá hoặc ngụy trang thành các cành cây khô. Chủ yếu hoạt động mạnh từ chập tối trở đi, đó là thời điểm hầu hết các kẻ thù đang chuẩn bị đi vào giấc ngủ sau một ngày mệt nhoài kiếm ăn.

Một số đặc điểm phân biệt Owlfly và Chuồn chuồn
Điểm phân biệt dễ thấy nhất là Owlfy có cặp ăng ten (râu) rất dài, có khi dài bằng cả cơ thể. Ăng ten dạng chùy (tức là phần chóp ở đầu phình to như quả chùy). Trong khi râu chuồn chuồn rất ngắn và không có dạng chùy.
Ngoài ra, một số loài Owlfy không bao giờ đậu trên bề mặt lá, thường đậu dưới lá. Chân ôm sát cành cây, đuôi (bụng) chĩa ra, cặp cánh cụp xuống (xem hình). Kiểu đậu này giúp nó ngụy trang thành một cành cây khô vào ban ngày. Trong khi hầu hết chuồn chuồn thích đậu ở đỉnh của các cành cây khô (dễ săn mồi), chân không ôm sát.

Một số đặc điểm phân biệt Owlfly và Kiến sư tử
Owlfly có cùng Siêu Họ Myrmeleontoidea với Kiến sư tử. Do vậy chúng có chung một số đặc điểm về hình dáng và hình dạng ấu trùng. Tuy nhiên đặc điểm khác biệt nhất giữa hai Họ này đó là:

– Owfly có cặp ăng ten rất dài, còn Kiến sư tử có ăng ten ngắn
– Owlfy có cặp mắt to giống chuồn chuồn (dragonfly), còn Kiến sư tử mắt bé, giống với chuồn chuồn kim (damselfly)

kien_su_tu

Một con Kiến sư tử trưởng thành với cặp ăng ten rất ngắn và đôi mắt bé. Ảnh: Nguyễn Ngọc Lâm

Ấu trùng của Owlfly có hình dạng khá giống với ấu trùng Lacewing và ấu trùng Kiến sư tử. Ấu trùng Owlfly sống dưới các lá mục, thảm thực vật, hoặc trên các cành cây, có tập tính săn mồi chờ đợi và bất ngờ tấn công mục tiêu. Sau đó tiêm chất độc vào cơ thể, làm hóa lỏng con mồi từ bên trong và hút ra.

Owlfly đẻ trứng xếp dọc theo cành cây. Các cây này chỉ cách mặt đất khoảng vài chục centimet. Khi ấu trùng nở ra chúng sẽ bám trên cành cây một thời gian ngắn trước khi từ biệt các anh em của mình “xuống núi” để tìm kiếm thức ăn. Tập tính này hoàn toàn trái ngược với Lacewing, một loài cũng gần gũi với Owlfly.(Thông tin về Lacewing có thể đọc thêm tại đây)
———————
Lời tác giả
Việt Nam là một trong những quốc gia được xem là đa dạng sinh học bậc nhất thế giới. Rất nhiều loài đã được ghi nhận, rất nhiều loài cũng được đưa vào diện bảo tồn và cũng không ít loài đã từng tồn tại, nhưng nay đã vắng bóng, không còn ai nhìn thấy chúng nữa.

Owlfly trước kia có thể dễ dàng bắt gặp trong các khu vườn tược của người dân thì nay chỉ còn thấy chúng trong các khu rừng xa xôi, nơi tiếng cưa máy tạm thời chưa vọng đến. Nhưng chưa biết trong tương lai, liệu chúng ta còn có thể thấy được loài côn trùng độc đáo này nữa không?

Comments

comments

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *